Cần lắm những cây cầu…

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

Nỗi ám ảnh về một cây cầu khỉ

Thứ ba, 08/12/2009 06:55

http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/www.congan.com.vn/Noi-am-anh-ve-mot-cay-cau-khi/3592481.epi

(CATP) Bảy năm qua, thầy cô giáo và học sinh ở xã Tây Yên, huyện An Biên, Kiên Giang phải “bò” qua cây cầu khỉ cheo leo dài trên 13m để đến trường. Gặp ngày mưa gió cầu càng trơn trợt khó đi. Mãi đến khi một học sinh té cầu chết đuối khiến các học sinh sợ bị “ma” bắt nên không dám qua cầu đi học.

Mỗi ngày học sinh phải leo qua cầu khỉ tới lớpMỗi ngày học sinh phải leo qua cầu khỉ tới lớp

Sự việc xảy ra ngày 22-11-2009. Em Trần Thị Bé Ngoan, học sinh lớp 3, điểm trường Kinh Dài C thuộc Trường tiểu học Tây Yên 2, đi qua cầu hái ổi chơi và té xuống kinh chết đuối. Người thân thấy con về muộn nháo nhào tìm kiếm, cuối cùng thấy xác Ngoan nằm gần cây cầu khỉ.

Sau cái chết của Ngoan, các học sinh qua cầu đều sợ không chịu đi học. Một số em còn xì xầm thấy một con ma mặc áo trắng bay phất phơ gần cầu. Trước tình hình này, ủy ban xã phải tới từng nhà vận động phụ huynh đưa con em tới trường. Thầy Lâm Văn Tol, giáo viên chủ nhiệm lớp em Ngoan buồn bã cho biết: nguy hiểm của cây cầu này ai cũng biết bởi các học sinh còn nhỏ, đi lại khó khăn. Vào những ngày xấu trời, các thầy cô luôn đến trước để túc trực giúp đỡ các em qua lại an toàn. Cũng do cây cầu quá nguy hiểm nên các thầy khuyên học sinh nên rủ nhau đi chung, nếu có bề gì còn kêu người lớn cứu.

Theo ông Mai Hồng Giềng, Hiệu trưởng Trường tiểu học Tây Yên 2, đã nhiều lần kiến nghị lên xã để thay cầu khỉ nhưng không thấy gì. Cây cầu khỉ này là “huyết mạch” để hơn 40 con em ở ấp Rạch Cóc đến 2 điểm trường Mũi Rảnh và Kinh Dài C. Ông Trần Quốc Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Tây Yên nói: “Trước đây cũng nghe bà con, giáo viên ở Rạch Cóc phản ánh cây cầu bất tiện cho học sinh nhưng tôi mới nhận nhiệm vụ nên chưa kịp tìm hiểu sao UBND xã chưa bắc cầu cho học sinh đi. Chúng tôi sẽ dỡ cây cầu ván ở nơi khác đem về thay cầu khỉ này. Sau đó tìm nhà hảo tâm tài trợ chứ vận động người dân đóng góp rất khó bởi họ còn khó khăn lắm”.

L.T – L.T

Học sinh không dám đi học vì sợ té cầu

http://dantri.com.vn/Print-365493.htm

(Dân trí) – Ngày 3/12 ông Mai Hồng Giềng, hiệu trưởng trường tiểu học Tây Yên 2, Kiên Giang cho biết mấy ngày qua có hơn 40 học sinh của trường không dám đi học. Nguyên nhân là phụ huynh sợ các em đi học qua cầu khỉ bị té sông.

Trước đó, ngày 22/11, em Trần Thị Bé Ngoan, HS lớp 3 của trường tiểu học Tây Yên 2 đi qua cây cầu khỉ ở ấp rạch Gốc thì bị té sông và chết đuối. Người nhà Ngoan thấy em đi lâu không về nên vội vàng tìm kiếm, đến 21 giờ cùng ngày mới phát hiện xác của Ngoan trôi dưới kênh ở địa điểm gần cây cầu khỉ.

Cây cầu khỉ dài gần 20 m, nhưng ở khu vực này có tới 40 học sinh cần đến trường phải đi qua cây cầu này. Thời gian gần đây, thời tiết vào mùa mưa nên cây cầu bị trơn trượt, học sinh đi lại rất khó khăn. Những ngày mưa phụ huynh và giáo viên phải thường xuyên túc trực hai đầu cầu để giúp đỡ các em qua sông an toàn.

Được biết đã nhiều lần có nhiều học sinh bị té ở cây cầu khỉ này nhưng đã được thầy cô, người nhà và những người dân ở đây cấp cứu kịp thời. Riêng bé Ngoan bị té vào ngày chủ nhật nên không được phát hiện và cấp cứu kịp thời.

Cũng theo ông Giềng, do cây cầu khỉ quá nguy hiểm cho tính mạng học sinh nên nhà trường đã nhiều lần kiến nghị xã có biện pháp thay cầu mới để các em được đến trường an toàn, nhưng lúc nào xã cũng trả lời chưa có kinh phí.

Phạm Tâm

“Ước gì có một cây cầu cho tụi nhỏ đi học”

(Dân trí) – Một bà cụ 70 tuổi ở ấp Rạch Gốc (xã Tây Yên, huyện An Biên, Kiên Giang) nghẹn ngào nói như thế khi chúng tôi về địa phương tìm hiểu việc hàng chục học sinh không dám đi học vì sợ té cầu khỉ sau khi một học sinh thiệt mạng do té cầu.
>> Học sinh không dám đi học vì sợ té cầu

Bà cụ này là Nguyễn Thị Nghĩa, bà nội của em Trần Thị Bé Ngoan (10 tuổi, học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tây Yên 2) – em học sinh vừa mất cách đây khoảng 3 tuần vì đi qua cây cầu khỉ trước nhà bị té chết đuối.

Cây cầu khỉ nơi em Trần Thị Bé Ngoan, 10 tuổi, bị thiệt mạng do té cầu.

Một ngày thương tâm của ấp Rạch Gốc

Bà Nghĩa kể cho chúng tôi biết, ngày 22/11, cháu của bà đi qua cây cầu khỉ trước nhà để qua phía bên kia sông chơi. Cho đến chiều tối vẫn không thấy Bé Ngoan về nên cả nhà đổ xô đi tìm. Chạy khắp các nhà hàng xóm vẫn không ai hay biết tin tức gì của cháu. “Lúc này cả nhà mới hoàn hồn nghĩ đến cây cầu khỉ và con kinh sâu ở trước nhà mà lo lắm” – bà Nghĩa xúc động kể lại.

Lúc này, gia đình bà Nghĩa mới nhờ các thợ lặn xung quanh cùng nhau quần quật cả khu vực có cây cầu khỉ bắc ngang nhưng vẫn không tìm được. Cho đến khoảng 9 tối cùng ngày mới phát hiện xác của cháu Ngoan nổi lên ngay đoạn giữa cây cầu. “Thật không biết sao thi thể của cháu nó nổi ngay giữa cầu mà cả một buổi chiều không ai tìm gặp” – bà Nghĩa nói tiếp.

Tin về cái chết của Bé Ngoan loan khắp cả ấp Rạch Gốc. Tức thì cha mẹ các em nhỏ ở đây bỗng dưng thấy sợ nên quyết định không cho con em mình đi học nữa mà bắt ở nhà nghỉ vài ngày.

Nhiều năm qua, các em học sinh nhỏ bé phải đi qua cầu cầu dài 34m để đến trường.

Ngay cả thầy giáo dạy ở điểm trường Rạch Mũi nằm ở bên kia sông cũng “ớn lạnh” bởi bản thân thầy cũng không biết bơi. Dù cho cha mẹ của các em chỉ cho nghỉ 2 ngày nhưng thầy giáo quyết định cho học sinh của mình nghỉ cả tuần lễ để trấn an.

Quả thật, dù sự việc đã qua hơn 3 tuần lễ nhưng nhiều em học sinh học lớp 1 và lớp 2 của điểm trường Rạch Mũi khi chúng tôi tiếp xúc vẫn còn thấy sợ. Em Dương Văn Minh Đoàn (6 tuổi, học lớp 1) vừa nói vừa run: “Khi có người chết em sợ ma lắm. Đi qua cầu mà cứ nhắm mắt không hà”.

Em Trần Bảo Tín (8 tuổi, học lớp 2) cũng nói : “Em cũng bị té một lần rồi nhưng hên là té ở trong bờ cạn. Giờ có chị Ngoan chết ở dưới đó em hổng dám qua cầu luôn chú ơi”. Nhiều em khác cũng cùng chung tâm trạng như hai em học sinh trên khi chúng tôi hỏi đến chuyện đau lòng vừa qua.

Qua cầu phải… mặc áo phao

Ngay trong khoảng 1 giờ chiều ngày 11/12, chúng tôi thấy hàng chục em học sinh nhỏ nhắn (đang học ở điểm trường Rạch Mũi) đi học qua cầu phải đeo hai thứ trên người: cặp sách và áo phao. Giữa cái nắng chang chang của vùng biển, mặc cái áo sơ mi mỏng tang mà chúng tôi còn thấy nóng chứ nói chi đến mặc cái ao phao dày cộm. Nhìn các em học sinh mặc áo phao đi chầm chậm từng bước một qua cầu khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng.

Em Dương Văn Vũ Trường (8 tuổi, học sinh lớp 1) cho biết:  “Sau khi đi học lại, mẹ em mua cho em cái áo phao này, mẹ nói lỡ khi té nó sẽ cứu sống mình”. Không riêng gì em Trường mà các em học sinh khác cũng được cha mẹ mua cho cái ao phao để đi học. Một số phụ huynh bày tỏ với chúng tôi:  “Dù nhà cách trường một đoạn ngắn nhưng chúng tôi buộc các con mặc áo phao để phần nào đó đảm bảo an toàn”.

Nhiều em học sinh buộc phải mặc áo phao khi đi qua cầu mà vẫn sợ.

Không chỉ cho con mặc áo phao qua cầu mà trước đó nhiều gia đình phải dùng xuồng máy để đưa con mình đi học. Bà Nguyễn Thị Nghĩa cho biết, có một người ở trong xóm tình nguyện đưa con em của các gia đình qua sông đi học, nhưng mỗi gia đình phải chịu chi phí 1 lít xăng, hết thì chia nhau xoay vòng. Bởi cây cầu khỉ mà chẳng ai dám cho con em họ đi nữa.

Tốp học sinh mà chúng tôi tận mắt thấy đi qua cầu cũng không phải các em tự đi mà phải có người dẫn dắt. Lúc thì tự cha mẹ các em dẫn đi, lúc thì thầy giáo dẫn qua các em mới dám. Một người dân ở đó cũng cho biết, khi nước lớn thì cây cầu khỉ này sẽ bị ngập một số đoạn (chủ yếu là buổi sáng) nên chính thầy giáo đã đổi lịch học buổi chiều vì thầy giáo cũng thấy sợ khi đi qua cầu.

Cho đến … ước mơ có cây cầu mới

Khi chúng tôi tiếp xúc với người dân ở ấp Rạch Gốc, hầu như ai cũng ao ước có một cây cầu để cho con em họ đi học được dễ dàng.

Ngay chính bản thân các em học sinh cũng bày tỏ là rất thích có cầu mới để các em không phải mặc áo phao, để mỗi lần qua cầu không còn sợ bị té nữa. Em Dương Kim Ngân (8 tuổi, học lớp 1) nói: “Em ước có cầu lớn để em có thể đạp xe đạp đi học như các bạn ở ngoài chợ”.

Được biết, điểm trường Rạch Mũi (thuộc trường Tiểu học Tây Yên 2) được xây dựng từ năm 2002, đất do một hộ dân hiến cho. Theo quan sát của chúng tôi, ngay cả điểm trường này cũng rất sơ sài, bởi trường không nhà vệ sinh, không sân chơi, chỉ trơ trọi giữa cánh đồng. Trường chỉ có được một phòng học vì thế buộc dạy lớp ghép (lớp 1 và lớp 2) khoảng gần 20 em.

Ngôi trường nhỏ lẻ, không sân, không nhà vệ sinh, chỉ có một phòng học là 2 lớp ghép lại.

Ông Trần Văn Tuấn, Chủ tịch UBND xã Tây Yên, cho chúng tôi biết : “Ấp Rạch Gốc có khoảng 50 hộ dân nên tính chung thì có khoảng 40-50 em học sinh đi học. Điều đáng nói là tất cả các em đều phải đi qua cầy cầu này. Em nào học ở điểm Rạch Mũi thì thôi, còn các em lớp 3-lớp 9 thì khi đi qua cầu phải lội bộ 3km nữa mới tới trường”.

Nói về cây cầu bắc qua kinh đê quốc phòng ở ấp Rạch Gốc, ông Tuấn cho biết, do trước đây giao thông khó khăn nên ngành giáo dục cho xây điểm trường nhỏ này để các em lớp 1, lớp 2 đi học. Chính vì thế phải bắc một cây cầu để các em đi qua sông. Cây cầu dài khoảng 34m, trước đây làm bằng cây dừa nhưng rồi lâu ngày bị mục. Được một số hộ dân đốn cây làm lại cầu mới và liên tục sửa chữa nhiều lần. Cây cầu chủ yếu chỉ phục vụ cho các em học sinh, còn người dân đi lại rất ít bởi bên kia sông không có nhà dân mà chỉ có ruộng đồng.

Quả thật, nhìn cây cầu hiện tại thật sự chúng tôi không nghĩ rằng các em học sinh 6-8 tuổi đi qua được. Cây cầu có một số đoạn mà giữa tay vịn và thân cầu khoảng cách ngang bằng với các em. Tay vịn thì làm bằng thanh tre to tướng, to hơn cả bàn tay nên các em không thể vịn chắc và tròn tay được. Chính vì thế các em vừa đi, vừa nhón chân, nhiều em mách với chúng tôi mỗi lần đi qua sợ té và run lắm.

Tay vịn cầu làm bằng thanh tre to tướng khiến các em nhỏ không thể vịn chắc và tròn tay được.

Còn tại sao phải xây trường bên kia sông, ông Tuấn cũng cho biết do bên đây không có đất mà con đê lớn là đê quốc phòng nên việc xây dựng không được thực hiện. “Do xã còn nghèo nên việc xây dựng một cây cầu vững chắc quả thật ngoài tầm tay của địa phương” – ông Chủ tịch xã bộc bạch.

Ông Tuấn bày tỏ thêm: “Nhiều năm qua, chúng tôi luôn kêu gọi các mạnh thường quân cùng chung tay góp sức tạo điều kiện cho địa phương xây cầu để phục vụ cho việc học tập của các em học sinh nhưng vẫn chưa được ủng hộ. Giờ qua báo Dân Trí, chúng tôi rất mong và tiếp tục kêu gọi sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm để có thể xây được một cây cầu mới, phần nào đó cũng đáp ứng theo nguyện vọng của hàng chục hộ dân ở đây”.

Bài và ảnh: Huỳnh Hải

Source: http://dantri.com.vn/c25/s25-367377/uoc-gi-co-mot-cay-cau-cho-tui-nho-di-hoc.htm

Cà Mau : Mong manh cầu khỉ, đò ngang

05:00′ 01/02/2009 (GMT+7)

http://vietnamnet.vn/xahoi/2009/02/826443/

- Để có thể đến trường, hàng ngày, học sinh ở ấp Trung Hưng (xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, Cà Mau) phải chen chúc trên những chuyến đò mong manh hoặc phải đi qua những chiếc cầu khỉ chênh vênh đầy bất trắc…

Những chiếc cầu bê tông bắc ngang sông hoặc những con đò an toàn chắc, chắn luôn là niềm mong ước của các em học sinh ở một trong những xã xa xôi nhất của tỉnh Cà Mau.

Mỗi buổi sáng, học sinh ấp Trung Hưng,  (xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, Cà Mau) tìm cách đến trường. Phương tiện đi lại của học sinh sống ở vùng sông nước là những con đò hoặc những cây cầu khỉ mong manhMỗi buổi sáng, học sinh ấp Trung Hưng, (xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, Cà Mau) tìm cách đến trường. Phương tiện đi lại của học sinh sống ở vùng sông nước là những con đò hoặc những cây cầu khỉ mong manh
Những chuyến đò dọc mong manh, bất trắc...Những chuyến đò dọc mong manh, bất trắc…
Những cây cầu khỉ cũng mong manh, bất trắc không kémNhững cây cầu khỉ cũng mong manh, bất trắc không kém
Đường đến trường của học sinh ở vùng sâu, vùng xahuyện Trung Hưng luôn gập ghềnh, trắc trởĐường đến trường của học sinh ở vùng sâu, vùng xahuyện Trung Hưng luôn gập ghềnh, trắc trở
Đã có nhiều học sinh trượt chân chết đuối  khi đi qua cầu khỉ...Đã có nhiều học sinh trượt chân chết đuối khi đi qua cầu khỉ…
Nhưng giấc mơ được đến trường thì lúc nào cũng cháy bỏng...Nhưng giấc mơ được đến trường thì lúc nào cũng cháy bỏng…

27

Những chiếc cầu bê tông và những chuyến đò an toàn luôn là mong ước của hàng triệu học sinh vùng sông nước ở các địa phương xa xôi ở Cà Mau. Những chiếc cầu bê tông và những chuyến đò an toàn luôn là mong ước của hàng triệu học sinh vùng sông nước ở các địa phương xa xôi ở Cà Mau.
Chỉ có điều, cái nghèo, cái khổ cứ đeo bám dai dẳng gia đình những học sinh vùng sông nước nên họ vẫn mãi chỉ biết ước mơ...Chỉ có điều, cái nghèo, cái khổ cứ đeo bám dai dẳng gia đình những học sinh vùng sông nước nên họ vẫn mãi chỉ biết ước mơ…

Thứ Hai, 12/10/2009, 11:35 (GMT+7)

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=341128&ChannelID=13

Thanh Hóa: chông chênh bè mảng đến trường

TTO – Hằng ngày, mùa mưa cũng như mùa khô, hơn 200 em học sinh từ mầm non đến trung học ở xã Vân Am, huyện miền núi Ngọc Lặc (Thanh Hóa) phải qua sông Âm bằng bè mảng (đóng bằng cây luồng) để đến trường. Việc qua sông như thế này rất nguy hiểm đến tính mạng các em.

Các em học sinh ở nhiều bản của xã Vân Am, huyện miền núi Ngọc Lặc (Thanh Hóa) hằng ngày phải vượt sông Âm để đến trườngCác em học sinh ở nhiều bản của xã Vân Am, huyện miền núi Ngọc Lặc (Thanh Hóa) hằng ngày phải vượt sông Âm để đến trường

Sông Âm chảy qua địa bàn xã dài hơn 16km, chia đôi địa giới hành chính của xã. Trong 17 bản của xã thì bên hữu có bảy bản và có bốn bản vừa nằm bên tả vừa nằm bên hữu sông Âm. Trong khi đó các trường học của xã đều nằm bên tả sông Âm, nên học sinh bên phía hữu sông Âm đến trường phải đi bằng bè mảng rất vất vả, nguy hiểm.

Ông Lê Văn Duyên – phó chủ tịch UBND xã Vân Am – cho biết: để tạo điều kiện cho các cháu bên hữu sông Âm đến trường, nhiều năm qua UBND xã đã tổ chức cho hai người (được trả lương) chuyên đưa đón học sinh qua sông miễn phí tại bến đò Đắm. Tuy nhiên, vào những ngày mưa lũ, nước sông Âm dâng cao, chảy xiết rất nguy hiểm.

Trước thực trạng này, chính quyền xã đã nhiều lần kiến nghị với huyện, tỉnh có dự án đầu tư xây dựng cầu bắc qua sông Âm để đồng bào địa phương bớt khó khăn mỗi khi qua sông, các em học sinh đến trường bớt nguy hiểm, nhưng đến nay vẫn chưa được phê duyệt.

“Hiện các bậc phụ huynh chỉ mong ngành giáo dục – đào tạo hoặc Ban An toàn giao thông tỉnh Thanh Hóa sớm quan tâm, cấp áo phao, cặp cứu sinh… để học sinh qua sông Âm đến trường được an toàn hơn…” – ông Duyên nói.

Tin, ảnh: HÀ ĐỒNG

Cần lắm… những chiếc áo phao

SGGP – Thứ bảy, 10/01/2009, 15:43 (GMT+7)

http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2009/1/178134/

(SGGP-12G).- Để đến trường, nhiều học sinh ở xóm Gò Ổi (xã Xuân Quang 2, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên) phải tự mình đánh sõng (thuyền nhỏ) qua sông giữa bốn bề nước trắng. Trong khi chính quyền địa phương đang nỗ lực hình thành một “bến đò chính quy” thì mơ ước nhỏ nhoi của người dân nơi đây là có được chiếc áo phao hộ thân cho con em mình khi đến lớp mùa mưa vẫn chỉ là… mơ ước!

Trẻ thơ giữa dòng nước xoáy

Đến bờ sông Kỳ Lộ vào giữa trưa trong cơn mưa tầm tã, gọi đến khản cổ vẫn không thấy có bóng dáng của bất kỳ chiếc đò ngang nào. Chờ hơn nửa giờ đồng hồ mới được ông Võ Văn Tùng, một người dân xóm Gò Ổi, cho đi nhờ trên chiếc ghe nhỏ.

Đúng lúc giờ tan trường, chúng tôi tận mắt chứng kiến những chiếc sõng nhỏ bé xuất hiện giữa mênh mông nước. Ông Tùng cho biết: “Khách muốn qua sông chỉ còn cách chờ đúng lúc người dân trong xóm quẩy sõng để xin đi ké. Ở đây, sõng là phương tiện duy nhất giúp mọi người đi lại. Chính vì vậy, việc học của các cháu gian nan lắm”.

12
Em Nguyễn Chánh Tiên (lớp 4D, Trường Tiểu học Xuân Quang 2) đội mưa, tự tay quẫy sõng đưa chị gái đến trường

Xóm Gò Ổi, xã Xuân Quang 2 tứ bề toàn nước, là phần đất tách biệt với phía bên kia sông Kỳ Lộ. Vào mùa hè, khi con nước xuống chừng mắt cá, học sinh trong xóm đến lớp chỉ cần lội là qua. Tuy nhiên, từ tháng 9 trở đi, nước sông lênh láng, sõng là phương tiện duy nhất giúp các em gắn bó với con chữ. Gần chục năm qua, ở xóm Gò Ổi không có lấy một “tay chèo chuyên nghiệp” nào làm nhiệm vụ đưa rước học sinh.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là ở xóm Gò Ổi này, có nhiều học sinh cao chưa bằng nửa cây dầm phải tự… bơi sõng đi học! Em Võ Trọng Tuyên, học sinh lớp 6B, Trường THCS Hoàng Văn Thụ, cho biết: “Suốt 6 năm qua, ngày nào em cũng tự bơi sõng sang sông”.

Em Nguyễn Chánh Tiên, học sinh lớp 4D, Trường Tiểu học Xuân Quang 2, hồn nhiên nói : “Lũ lớn cháu không dám, còn lũ nhỏ tự cháu bơi sõng đưa chị cháu sang sông cùng đi học”. Nhìn chiếc sõng chở hai chị em Tiên chòng chành giữa những đợt sóng sùi bọt đục ngầu, ai nấy cũng đều ớn lạnh…

Trên đường đến trường, các em còn phải tiếp tục vượt qua “ải” suối Tre (thuộc thôn Triêm Đức, xã Xuân Quang2). Cầu suối Tre thường ngập quanh năm, chỉ cần đợt mưa lớn chừng hơn 30 phút là cầu ngập giữa dòng sông. Chị Trần Thị Thọ, một người dân trong thôn cho biết: “Năm nào cũng có người gửi mạng dưới chân cầu này nên chưa bao giờ yên tâm”. Chị Thọ lo âu cũng phải vì con chị cũng giống như nhiều đứa trẻ khác trong thôn, dù đã học lớp 6, làm sao chống lại dòng nước xiết?!

Ước mơ vẫn là… mơ ước!

Các em học sinh qua sông đến trường trong mùa nước lớn nhưng tuyệt nhiên trên sõng không có bất kỳ phương tiện cứu hộ nàơ. Hằng năm các cơ quan, tổ chức có tránh nhiệm ở tỉnh Phú Yên đều có các đợt cấp áo phao, hướng dẫn kỹ thuật chèo đò khi lũ lớn cho người dân ở các vùng ven sông nhưng không hiểu tại sao tất cả những “tay chèo” bất đắc dĩ ở xóm Gò Ôỉ này gần chục năm nay đều “ngoài vùng phủ sóng”?!

Anh Nguyễn Văn Tiến, ba của em Tuyền, bức xúc nói: “Xóm Gò Ổi có 30 nóc nhà, nếu yêu cầu Nhà nước xây cầu bắc qua con sông Kỳ Lộ rộng lớn e rằng khó thực hiện được. Chúng tôi chỉ mong bọn trẻ có áo phao hộ thân mà thôi!”. Rồi anh Tiến phân tích: “Dù bơi sõng quen nghề cỡ nào nhưng khi ra đến giữa sông gặp đám chà từ trên lao thẳng xuống thì không tài nào tránh được”.

13
Phụ huynh Nguyễn Văn Tiến (xóm Gò Ổi, Xuân Quang 2) vác sõng bơi sông, đưa con đến trường

Hầu hết các hộ dân ở Gò Ổi đều thuộc diện nghèo, sống cả đời không có mảnh đất cắm dùi nên phải đến chỗ sâu bậc nhất của một huyện miền núi dựng tạm ngôi nhà tranh vách đất để sinh cơ lập nghiệp. Có hộ nghèo đến nỗi không có tiền thuê thợ giỏi đóng cho con một chiếc sõng tốt để qua sông. Vì vậy, đành tự tay đóng lấy những chiếc sõng với chất liệu gỗ dễ mục, sẽ rất nguy hiểm cho người sử dụng.

Chủ tịch UBND xã Xuân Quang 2 Lê Văn Hùng băn khoăn: “Trong khi chính quyền địa phương đang nỗ lực hình thành một “bến đò chính quy” thì việc trang bị cho các em những chiếc áo phao là rất cần thiết, nhưng việc này vẫn ngoài tầm tay của xã. Sắp đến, xã sẽ tiếp tục kiến nghị mạnh với cấp trên để đáp ứng yêu cầu chính đáng của bà con”.

XUÂN HUY – HOÀI NAM

Đò ơi!

http://www.laodong.com.vn/Home/Do-oi/20099/155327.laodong

Lao Động số 207 Ngày 15/09/2009 Cập nhật: 8:03 AM, 15/09/2009

14
Những chiếc đò an toàn được lựa chọn để đưa rước học sinh nghèo miễn phí.

(LĐ) – 400 học sinh bỏ học vì không có tiền đi đò. 11.000 học sinh trong năm học này thuộc diện nghèo thường xuyên đi học bằng đò đang có nguy cơ bỏ học.

3 tháng phát động hỗ trợ tiền đò cho học sinh đến trường, Cà Mau nhận được trên 25 tỉ đồng. Cả hệ thống chính trị tại Cà Mau đang vận động tiền đò cho học sinh có nguy cơ bỏ học vì… đò đến trường!

Tròng trành con chữ trên những chuyến đò


Vùng bán đảo Cà Mau sông nước mênh mông, ai cũng biết. Để đến những mái trường thân thương, các em buộc phải đi qua những con đò dọc ngang sóng nước. Chưa có con số thống kê chính thức, toàn vùng sông nước Cửu Long có bao nhiêu em thường xuyên đến trường bằng phương tiện vận chuyển đường thủy nội địa.

Cà Mau thống kê có khoảng trên 31.000 em học sinh phổ thông thường xuyên đến trường bằng đò, An Giang có trên 1.000 học sinh người Việt bên kia biên giới vượt sông về đất mẹ Việt Nam học tiếng mẹ đẻ. Bạc Liêu, Sóc Trăng, Đồng Tháp… con số chắc hẳn không ít.

Tôi sinh ra ở miền sông nước Bạc Liêu, từ nhỏ đã thấy chiếc đò, lớn lên đi học nhà cách trường trên 4 cây số. Cứ mỗi sáng, mẹ đánh thức anh em tôi dậy vào lúc 4 giờ rồi cùng chèo xuồng ra chợ. Mẹ bán những thứ vặt vãnh trong vườn, anh em tôi đến trường. Trưa, đón đò khách lúc 11h30 về nhà. Những chuyến đò như thế đã âm thầm đưa chúng tôi đi đến an toàn.

Và bao giờ chú Bảy “đò” cũng lấy tiền bọn học sinh chúng tôi bằng 50% giá quy định chung. Khi học bậc THPT, con đường đến trường xa hơn, tôi phải đi qua 2 con đò dọc và một quãng đường xe đạp trên 12 cây số. Một ngày qua lại trên kênh xáng Bạc Liêu – Cà Mau đến 4 lần và chúng tôi chỉ trả tiền 2 lần. Ngày trước, huyện Giá Rai quy định các chủ đò ngang miễn hoàn toàn cho giáo viên và giảm 50% đối với học sinh.

Hỏi các bạn bè huyện Hồng Dân, Phước Long cũng vậy. Năm học này, ông Phạm Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND huyện Phước Long – cho biết, chủ trương miễn – giảm tiền đò cho học sinh, nhất là học sinh có hoàn cảnh khó khăn thực hiện khá lâu. Quy định này được HĐND huyện thông qua với một số ưu đãi về nghĩa vụ thuế cho các chủ đò chuyên chở học sinh sang sông đi học.

15
Phó Thủ tướng Chính phủ – Bộ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Thiện Nhân dắt tay học sinh xuống đò.

Tôi thật sự bất ngờ khi UBND tỉnh Cà Mau chính thức đưa ra con số vào năm học trước có đến 400 học sinh bỏ học vì thiếu tiền đi đò. Năm học này có đến 11.000 học sinh thuộc diện khó khăn có nguy cơ bỏ học do không có tiền đi đò.

Theo thống kê của ngành giáo dục Cà Mau, khoảng cách trung bình từ nhà đến trường trung bình 5 cây số và số tiền bỏ ra hàng tháng để chi cho tiền đò 150.000 đồng/em. Số tiền này sẽ là gánh nặng đối với những gia đình nông thôn, đời sống kinh tế còn khó khăn. Một chiến dịch vận động tiền đò cho các em học sinh vùng sông nước đến trường được triển khai thực hiện và bước đầu được đón nhận một cách nhiệt tình.

Chở yêu thương

Ông Bùi Khắc Lĩnh – ấp Kinh Lớn, xã Đông Thới, huyện Cái Nước (Cà Mau), gia đình nghèo – có 2 con thường xuyên đến trường bằng đò. Năm nay, ông có ý định cho một đứa thôi học vì gánh nặng tiền đò. Ý định này sẽ không còn lặp lại, khi nhà trường và UBND xã đến vận động và phát thẻ đi đò miễn phí cho năm học này. Ông xúc động nói: “Bây giờ thì tôi đã đỡ lo cái khoản tiền đò rồi. Tôi sẽ giáo dục con cái tốt hơn, khắc phục khó khăn để đưa các cháu đến trường thường xuyên học chữ”.

Đối với các em học sinh được hỗ trợ tiền đò bằng thẻ đi đò thật sự là một niềm vui. Các em không còn nơm nóp lo sợ thiếu tiền trả cho các chủ đò khi đi học.

Em Đoàn Ngọc Nga – lớp 8A Trường THCS Quang Trung, ấp Rau Dừa B, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước – nhà cách trường trên 5 cây số. Hằng ngày em phải đến trường bằng đò dọc, nhận thẻ đi đò, em mừng ra mặt, nói: “Con đi đò đã nhiều năm nay, nhận được thẻ này năm nay đi đò miễn phí, mừng ghê luôn. Vậy là mai mốt tiền cha mẹ cho đi đò, con sẽ để dành mua thêm sách tham khảo”.

Không biết gia đình Ngọc có cho em tiền đi đò nữa không, nhưng nhìn cái cách em vui cũng biết là em rất mừng. Bởi vậy mà em Huỳnh Văn UÁt – ấp Khánh Tư, xã Đông Tân, huyện Cái Nước, bị khuyết tật – cứ cầm mãi thẻ đi đò như sợ vuột mất. Em cho biết, gia đình mình nghèo lắm, được các chú, các bác hỗ trợ tiền đò thật sự là niềm vui của gia đình em.

Trên 11.000 em học sinh tại tỉnh Cà Mau thuộc diện khó khăn được hỗ trợ tiền đò miễn phí ngay trong năm học này. Số tiền quy đổi cho chương trình này trên 20 tỉ đồng/năm là không nhỏ đối với tỉnh nguồn thu ngân sách không nhiều. Vì vậy, tại đây cần lắm những tấm lòng, những vòng tay đùm bọc các em ngược xuôi đến trường trên các con đò vững chãi.

Cách làm của Cà Mau cũng lạ không kém. Ông Nguyễn Tiến Hải – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau – cho biết: “Toàn bộ số tiền hỗ trợ không trực tiếp đưa cho học sinh, mà chúng tôi phát thẻ đi đò cho các em. Em nào có thẻ đi đò khi đi các chuyến đò dọc, đò ngang đều được miễn phí. Việc lựa chọn đò đưa rước học sinh do chính quyền địa phương cùng với nhà trường thẩm định.

Những chủ đò phải hội đủ các điều kiện an toàn giao thông đường thủy nội địa theo quy định. Tiền được đưa cho các chủ phương tiện theo hợp đồng vận chuyển”. Để công bằng trong việc xét chọn những đối tượng được ưu tiên theo chương trình, UBND tỉnh chỉ đạo Sở GDĐT cùng với Sở LĐTBXH cùng với chính quyền địa phương lên danh sách và danh sách này được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã và các điểm trường.

Tuy nhiên, chuyện hỗ trợ tiền đò cho học sinh khó khăn chỉ là giải pháp nhất thời đối với học sinh miền sông nước này. Bao giờ cái nghèo, cái khó của người dân vơi đi và toàn dân cùng chung lo cho sự nghiệp giáo dục thì chuyện tiền đò không phải bận tâm.

Sông nước sẽ bình yên

Trăn trở điều này, ông Nguyễn Tiến Hải – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau – nói như tâm sự: “Hiện nay, Cà Mau còn trên 1.580 cây cầu ở nông thôn chưa xây dựng được. Riêng số tiền bỏ ra để bắt nhịp đôi bờ lên đến trên 100 tỉ đồng, đó là chưa kể những tuyến đường giao thông nông thôn ấp liền ấp, xã liền xã. Chừng nào Cà Mau nối những nhịp cầu, làm những con đường nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại, các em học sinh đi xe đạp đến trường thì chuyện đò dọc, đò ngang may ra mới chấm dứt”.

16
Em Huỳnh Văn Út – học sinh khuyết tật – vui mừng với tấm thẻ đi đò miễn phí.

Tuy nhiên, điều này đối với đặc điểm của vùng sông nước Cửu Long – không riêng gì Cà Mau – là điều khó có thể đạt được. Bởi dù có xây dựng bao nhiêu cây cầu, làm bao nhiêu kilômét đường đi nữa thì với sông ngòi chằng chịt, những con đò đưa rước khách sang sông vẫn tồn tại. Học sinh đến trường vẫn phải qua đò dù tỉ lệ giảm so với hiện nay.

Thật ra, chuyện tiền đò cho học sinh đến trường được Bạc Liêu áp dụng từ rất lâu. Nhiều địa phương quy định chủ đò giảm 50% cho học sinh từ THCS trở lên, miễn 100% cho học sinh tiểu học. Ông Trần Thanh Quan – Giám đốc Sở Tài chính Bạc Liêu – cho biết: “Dù HĐND tỉnh chưa có quy định riêng, nhưng hầu hết các địa phương khi xây dựng nguồn thu phí và lệ phí đều áp dụng như vậy”.

Học sinh bỏ học có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không đủ tiền đi đò, tuy nhiên nếu nơi nào công tác xã hội hóa giáo dục được làm tốt, được người dân quan tâm thì tỉ lệ học sinh bỏ học rất thấp.

Ông Trác Văn Đây – Phó Giám đốc Sở GDĐT Bạc Liêu – cho biết: “Qua kiểm tra các đối tượng bỏ học tại Bạc Liêu, nhóm chiếm đa số là học lực kém, không theo kịp chương trình dẫn đến chán nản; kế đó là cha mẹ thiếu quan tâm, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy đầu tư cho giáo dục sinh lợi nhiều nhất, họ buộc con em mình nghỉ học để phụ giúp gia đình; kế đến là do hoàn cảnh khó khăn, thiếu tiền đi đò mà nghỉ học tại Bạc Liêu không đáng kể”.

Thực tế cho thấy, nơi nào cha mẹ học sinh quan tâm đến giáo dục thì dù có cách trở đò giang đến đâu, họ cũng cố gắng cho con em mình đến trường. Tại Cà Mau không hiếm những nơi như vậy. Có những vùng quê nghèo ven biển, họ vẫn đầu tư cho giáo dục rất lớn. Những làng đại học nơi cuối cùng của tổ quốc được người dân địa phương gọi là “xóm Huế” liên tiếp mọc lên tại vùng cực Nam tổ quốc.

Đời sống của bà con vùng sông nước Cà Mau còn khó khăn. Con số trên 11.000 học sinh có nguy cơ bỏ học vì tiền đò minh chứng điều đó. Nó cũng nói lên một điều mà ai cũng ngại nói ra, là họ còn chưa quan tâm đến giáo dục. Ngày hội giáo dục Cà Mau được tổ chức, hình ảnh Phó Thủ tướng Chính phủ – Bộ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Thiện Nhân phát thẻ đi đò và dắt tay các em xuống bến để rời trường đến nhà hy vọng sẽ đánh thức tiềm năng giáo dục miền sông nước này. Hy vọng rằng tiền đò không phải là cái cớ để các phụ huynh vin vào để cho con nghỉ học giữa chừng.

Đò ơi! Nếu ngày xưa cha mẹ chúng tôi xem là gánh nặng thì bây giờ chắc có lẽ chúng tôi sẽ mãi ở làng quê nghèo khó. Ai từng ở vùng sông nước Cửu Long đến trường mà không phải đi đò. Những chuyến đò miễn phí đưa rước học sinh càng nhiều ý nghĩa. Ơ Cà Mau, học sinh đến trường chẳng phải lụy đò.

Nhật Hồ

Lưu để đọc sau Email bài này Bản in Ý kiến bạn đọc

Trở về

Các tin đã đưa

ÂU LO CON ĐÒ ĐẾN LỚP

Vượt nước xiết vùng biên giới

http://www.nld.com.vn/20090918012621314P0C1017/vuot-nuoc-xiet-vung-bien-gioi.htm

Sau khi đăng loạt bài cảnh báo về sự không an toàn trên những chuyến đò ở khu vực miền Trung, phóng viên Báo NLĐ ghi nhận thêm những chuyến đò đầy hiểm họa ở ĐBSCL. Đó là những chuyến đò đưa học sinh đến trường

Chiếc xuồng nhỏ xíu gắn máy “đuôi tôm” chở hơn 20 đứa trẻ ngồi chen chúc nhau, nín thở vượt dòng nước lũ chảy xiết trên sông Hậu để về đất mẹ học những con chữ vỡ lòng. Đó là hình ảnh quen thuộc của những học sinh Việt kiều ở Pẹc Chạy, quận Korthum, tỉnh Kandal, Campuchia trong cuộc hành trình qua biên giới để đến trường trên đất Việt.

Khai giảng trong mùa lũ

Xã Pẹc Chạy dân cư rải rác, không chợ, cũng không có tiềm năng nông nghiệp nên người Campuchia gốc Việt ở đây đa số đều nghèo khó. Phần đông sống dọc theo bờ sông Hậu đối diện với các xã Phú Hữu, Khánh An, Khánh Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Chỉ riêng 3 xã Pẹc Chạy, Sầm Pa Puôl, Sơn Kha Mau của quận Korthum đã có khoảng 2.300 hộ, với hơn 10.000 dân Campuchia gốc Việt sinh sống. Hầu hết những gia đình ở đây đều có họ hàng, người thân ở bên kia bờ sông thuộc Việt Nam.
Năm nay, 4 xã, thị trấn vùng biên của huyện An Phú đón nhận khoảng 1.100 học sinh Việt kiều quay về học tập. Nhiều nhất là Trường Tiểu học Khánh An và Trường THCS Khánh An, đón nhận tổng cộng hơn 700 học sinh là Việt kiều Campuchia. Năm học mới bắt đầu cũng là lúc nước lũ đầu nguồn lên cao. Pẹc Chạy chìm trong nước, không còn lấy một con đường.

Xuồng nhỏ vượt sông lớn

Để tới lớp học bên này biên giới, các em phải bơi xuồng hoặc đi đò ngang, đò dọc. Hai anh em Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thị Tú nhà ở tận trong Mương Vú, một thôn vùng sâu của xã Pẹc Chạy, sáng nào cũng tranh thủ dậy sớm, nấu cơm đem theo rồi bơi xuồng vượt cánh đồng Pẹc Chạy ra sông Hậu. Bà Nguyễn Thị Tư, mẹ của Thanh, Tú, cho biết hai đứa trẻ đang học ở Trường Tiểu học Khánh An. “Mặc dù để tụi nhỏ bơi xuồng đi học trong mùa lũ là hết sức nguy hiểm nhưng không có cách nào khác.

Mỗi ngày, học sinh Việt kiều phải đến lớp trên những chiếc đò nhỏ, không an toànMỗi ngày, học sinh Việt kiều phải đến lớp trên những chiếc đò nhỏ, không an toàn

Vợ chồng tôi giăng câu, giăng lưới suốt ngày mới tạm đủ sống. Nếu cử ra một người đưa rước hai cháu sẽ ảnh hưởng đến thu nhập gia đình, càng khổ” – bà Tư bày tỏ. Không riêng Thanh, Tú, nhiều học sinh khác ở Pẹc Chạy cũng phải tự bơi xuồng đến lớp. Lớn hơn những học sinh khác, Nguyễn Văn Có, học sinh Trường THCS Khánh An, chịu trách nhiệm dậy sớm, bơi xuồng đến nhà rước từng học sinh, rồi cùng nhau vượt quãng đường thủy khoảng 5 km. Cứ mỗi trận mưa là cánh đồng lũ trở thành biển sóng, đầy hiểm họa.

Nhà có 3 anh em nhưng chỉ mình Có được đi học. “Hồi trước, ba mẹ tính chỉ cho con học tới lớp 5, biết chữ là cho nghỉ về tiếp ba mẹ giăng câu, lưới. Biết nhà nghèo, ba mẹ cực khổ nên con cố gắng học giỏi. Thấy vậy, ba mẹ cho con học tiếp lên cấp 2. Con đã tự bơi xuồng đến lớp từ hồi học cấp 1” – Có cho biết. Không may mắn hơn, hai em Trần Văn Nhiều, Đoàn Thị Kim Túc, học sinh lớp 1B, Trường Tiểu học A Khánh An, để đến được lớp học, mỗi ngày, hai em phải đi qua một cánh đồng ngập nước rồi mới đến bến đò ngang, sang sông.

Túc ngọng nghịu nói: “Đi trên cánh đồng ngập nước dễ bị trượt chân, nguy hiểm lắm. Tập, sách của tụi con bị ướt hoài”. “Nhà trường hết sức lo lắng cho sự an toàn của các em nhưng không có cách nào giúp đỡ. Vì hoàn cảnh mỗi em mỗi khác, gia đình các em lại sống trên nước khác” – cô giáo của Túc tiếp lời.

Bên cạnh sự hồn nhiên, trên đường đến trường của các em luôn có những hiểm nguyBên cạnh sự hồn nhiên, trên đường đến trường của các em luôn có những hiểm nguy

Anh Cường, nhà ở xã Pẹc Chạy, mỗi ngày đưa con đến lớp bằng chiếc xuồng nhỏ. Đây là trường hợp hiếm có ở vùng biên giới này. Cảm thông cho những người xung quanh, anh Cường đảm nhận đưa rước thêm một số học sinh khác trong xóm. Mỗi ngày, chiếc xuồng nhỏ của anh Cường chở gần  20 học sinh nhưng chỉ có vài chiếc áo phao, không ít người cảm thấy lo âu.

Từ trên cánh đồng Pẹc Chạy, chiếc xuồng nhỏ băng ra sông Hậu, lọt vào giữa dòng nước xiết. Lênh đênh, chao lắc, anh Cường cố bình tĩnh và yêu cầu lũ trẻ trật tự để giữ an toàn. Nhóm học sinh trên xuồng nín thở. Khi đò cập vào bến chợ Khánh An, lên được bờ, các em tung tăng đến lớp, để lại mọi hiểm nguy sau lưng.

1.000 học sinh có nguy cơ thất học

Bức xúc của những người lái đò đưa rước học sinh Việt kiều đi học là chuyện bị xã Khánh An thu thuế cao. Ông Huỳnh Văn Dừng, nhà ở Pẹc Chạy, đã có hàng chục năm lái đò đưa rước học sinh ở đây, cho biết: “Xã Khánh An yêu cầu tôi đóng thuế bến bãi 500.000 đồng/tháng. Tôi không đóng thuế, họ không cho đò vào bến chợ”.

Các chủ đò khác cũng bị yêu cầu đóng thuế tương tự. Ông Dương Dân, một trong những người lái đò ở đây, phân tích: “Cũng có con đi học, luôn tiện, tôi nhận đưa rước thêm những cháu khác. Mỗi cháu, tôi chỉ thu từ 1.000 đến 2.000 đồng/ngày, tùy theo quãng đường. Nếu trừ chi phí xăng dầu, phí đóng cho bên Campuchia mỗi mùa lũ 1,3 triệu đồng, tôi chẳng còn dư bao nhiêu.

Nếu không đóng thuế cho xã Khánh An, đò của tôi không được cập bến chợ, phải vào bến khác, nước chảy xiết, rất nguy hiểm”. Nhiều phụ huynh ở Pẹc Chạy khẳng định: Nếu không có đò đưa rước, hơn 1.000 học sinh Việt kiều không thể tới trường trong mùa lũ, nguy cơ thất học là rất lớn.

Kỳ tới: Mạng nhện giao thông thủy

Bài và ảnh: QUỐC DŨNG

Vượt sóng nhặt chữ

http://www.laodong.com.vn/Home/Vuot-song-nhat-chu/200912/165734.laodong

Lao Động số 275 Ngày 03/12/2009 Cập nhật: 9:48 AM, 03/12/2009

19
Nhờ những chuyến đò nặng tình người này mà nhiều trẻ em ở xóm Bảy Trúc được đến trường.

(LĐ) – Bao quanh bốn bề là nước mênh mông trắng đồng. Chòng chành trên chuyến đò của anh em hợp tác xã Phú Hiệp (xã Phú Hữu, huyện An Phú, An Giang) hùn nhau đưa các em học sinh (HS) đến trường, chúng tôi mới cảm nhận hết cái tâm, cái tình mà anh em chia sẻ: “Xóm Bảy Trúc này nghèo tiền, nghèo của, nhưng không để con em mình bị nghèo cái chữ, tương lai mù mịt…”.

“Tụi nhỏ bơi xuồng cực quá!”

Mùa nước tràn đồng, thường bắt đầu từ dạo đầu tháng 5 âm lịch, xóm Bảy Trúc (thuộc các tổ 1, 2, 3, ấp Phú Hiệp, xã Phú Hữu) lại bị chia cắt trở thành ốc đảo. Con đường di chuyển độc đạo chính là những chuyến đò trên dòng kênh Bảy Trúc. Thế nhưng, giữa bao la đồng trống thì những chuyến đò trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết khi gió thốc, gió giật làm chao đảo. Dẫu không phải gặp cảnh mưa giông, thế nhưng những cơn gió mạnh hôm tháp tùng cùng anh em trên chuyến đò đưa các em HS đến lớp, chúng tôi mới hiểu được phần nào cái khổ của người dân ở đây…

Đón chúng tôi ở đầu vàm tuyến kênh cuối giờ HS ra về buổi sáng, anh Trần Văn Thơm (Mười Thơm) – Phó Chủ nhiệm HTX Phú Hiệp -  nói: “Giờ này anh em bắt đầu đưa chuyến về cuối buổi sáng, đưa giáp cuối vàm là cũng vừa để đón lượt ra. Mỗi ngày, anh em đưa  6 lượt ra vào đều ran”. Sắp xếp chỗ ngồi mấy em HS tiểu học ổn định, chiếc ghe chành bắt đầu nổ máy. Hướng thẳng về phía cuối vàm, chuyến đò tẻ nước đưa các em nhanh về kịp bữa cơm trưa.

Ngồi mũi ghe, anh Phạm Chiến Thắng – Chủ nhiệm Hợp tác xã Phú Hiệp – chỉ tay về phía những ngôi nhà nhấp nhô trong biển nước rồi nói: “Em thấy đó, ở xóm Bảy Trúc này dù nước lên ít hay nhiều gì thì cũng trắng đồng. Thấy tụi nhỏ bơi xuồng cực quá lại nguy hiểm nên mùa nước nổi năm nay, anh em trong HTX họp bàn, lấy nguồn quỹ công ích ra đổ xăng dầu, mua áo phao cứu sinh, ghe thì anh Hải (Phó Chủ nhiệm) cho mượn, anh Mười Thơm đứng ra coi sóc chuyện tổ chức, đưa rước sao cho an toàn”.

20
Nhờ những chuyến đò nặng tình người này mà nhiều trẻ em ở xóm Bảy Trúc được đến trường.

Vì sự an toàn cho các em

Đưa em cuối cùng về nhà an toàn, chuyến ghe dừng tại điểm tập kết đoạn gần cuối tuyến kênh. Ngồi chờ đến đầu giờ chiều (13 giờ), chuyến đưa các em học phụ đạo bắt đầu, chúng tôi có dịp hàn huyên tâm sự cùng các anh về những chuyến đò mùa nước nổi ấy.

Anh Mười Thơm kể: “Không phải đến bây giờ anh em mới nghĩ ra chuyện đưa đò cho sấp nhỏ, thật ra những chuyến đò ấy đã có hơn chục năm rồi. Người khơi nguồn chính là anh Tám Tề (Huỳnh Thái Tề). Lúc trước, cứ độ nước lên, lấy chiếc ghe chài với máy 5 ngựa rưỡi, ảnh đưa tụi nhỏ đi học miễn phí. 4 năm rồi, gia cảnh khó khăn nên ảnh nghỉ đưa. Xã hỗ trợ, thuê người đưa đò, nhưng người ta làm vì tiền chứ đâu vì cái tâm nên đưa rước cứ bữa nay bỏ sót đứa này, bữa nọ bỏ lại đứa kia, ở nhà vẫn phải bơi xuồng ra rước hết sức nguy hiểm. Nhưng cái mà anh em ở đây tức là họ đưa đò ăn tiền mà an toàn cho tụi nhỏ không đảm bảo; đưa đò 4 mùa, mùa nào cũng có chuyện chẳng may, vậy có tức không. Đã nghèo, cho con đi học để có cái chữ mà cứ nơm nớp lo chuyện chìm đò thì lấy tâm trạng đâu mà giăng câu, giăng lưới kiếm cái ăn?”.

Anh Sáu Khang (Huỳnh Lực Khang) tiếp lời kể câu chuyện chìm đò mới nhất diễn ra vào mùa nước nổi năm 2008. “Cũng dạo mùa gió bấc vầy nè, đang trưa ở nhà thiu thiu ngủ bỗng nghe tiếng thất thanh: Chìm đò, chìm đò… Biết chuyện chẳng lành, ba chân, bốn cẳng, anh em nhảy xuống xuồng, ghe nhanh chóng đến nơi. Ngụp lặn trong biển nước, mưa dai dẳng lạnh tê người mới đưa được hết 6 – 7 đứa nhỏ lên an toàn. Quần áo ướt nhem, sách vở trôi tứ tung, may mà tất cả đều lớn, biết lội hết, chứ không chắc có cảnh tang thương ở xóm Bảy Trúc hẻo lánh này rồi”. Đó không phải là chuyến đò duy nhất bị chìm, đã có những cái chết thương tâm từ sóng to gió lớn ở vùng đất cù lao đầu nguồn sông Hậu này.

9 – 10 em đến ngưỡng đại học

Gần 13 giờ khoảng chục em bắt đầu tập hợp: “Ông Mười ơi, hôm nay đưa tụi con đi sớm, có kiểm tra!”. Chiếc ghe nổ máy, tài công Huỳnh Triệu Phú (con trai người đưa đò đầu tiên Huỳnh Thái Tề) lên ga máy, chuyến đò tách bến giữa mênh mông biển nước. Đoạn đường 1,8km lâu lâu ghe lại chậm lại bởi những cây cầy khỉ, cầu tre lắt lẻo. Có lẽ, chỉ còn duy nhất cái xóm Bảy Trúc ở xã nghèo Phú Hữu này mới còn nhiều cầu khỉ đến thế. Không chỉ vậy, cả nghìn con người nơi đây đã mấy mươi năm ròng từ cái ngày đào kênh, lập ấp chưa biết ánh sáng điện trong nhà là thế nào. Xóm Bảy Trúc ấy vậy mới bị gọi đùa là xóm 4 không: Không điện, không đường, không trường, không trạm.

Chỉ tay về hướng con đê, anh Thắng cho hay: “Điện thì đang thống kê danh sách, còn đường thì anh em HTX cũng bàn rồi, nước rút là tụi mình đắp con đường này liền. Đắp cao được phần nào hay phần đó, chứ để chìm nghỉm trong nước vầy hoài sao được!”

Xóm Bảy Trúc dần khuất sau con nước trắng xóa. Mấy đứa trẻ ngồi lọt thỏm trên các băng ghế tạm giữa lòng ghe trong chiếc áo phao cứu sinh đùa nghịch, í a, í ới. Thế hệ thứ hai của người dân Bảy Trúc giờ đã có 9-10 em đi đến ngưỡng đại học, khoảng 80 em đang theo học từ bậc tiểu học đến THPT, xóm không có HS không đến lớp. Sự hiếu học vì một tương lai tươi sáng hơn cho vùng quê nghèo hẻo lánh đang được các chú, các bác vun đắp bằng những chuyến đò…

Hải Anh

Đọc thêm Vietnam.net :

http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/event/11906/

Những cái chết thương tâm ở cây cầu “vĩnh biệt”

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

(Dân trí) – Người đi qua cầu như những nghệ sĩ xiếc đi trên dây. Phía dưới là dòng nước chảy xiết, ẩn giấu trong lòng nó những tảng đá to như lưng trâu, trực chờ người xấu số. Tại cây cầu này đã xảy ra gần 30 cái chết thương tâm. Đó là cầu Máng, nối xã Tam Xuân 1 với xã Tam Tiến (huyện Núi Thành, Quảng Nam), dài gần 300m, vắt ngang sông Trường Giang. Người dân một số xã phía đông huyện Núi Thành đặt cho cây cầu này cái tên cầu “tử thần” hoặc cầu “vĩnh biệt”.

Cây cầu không lan can, rộng chỉ 80cm mà dài tới gần 300m

Cây cầu không lan can, rộng chỉ 80cm mà dài tới gần 300m

Những cái chết không báo trước

Chúng tôi trở lại cầu Máng để tìm thực hư về cây cầu mà nhiều người dân đã phản ánh, nghe câu chuyện về cái chết thương tâm của đôi vợ chồng sắp cưới cách đây không lâu.

Hôm đó là ngày 9/6/2009, buổi sáng anh Huỳnh Văn Đồ (sinh 1983, trú thôn 2, xã Tam Ngọc) và chị Nguyễn Thị Dung (sinh 1982, trú thôn Trung Đàn, xã Tam Đại, cùng huyện Phú Ninh) chở nhau qua cầu đến nhà người cô để đưa thiệp mời đám cưới. Chiều cùng ngày, lúc đôi trẻ trở về, trời nổi giông, lòng cầu quá nhỏ lại không có lan can bảo vệ, anh Đồ mất tay lái, cả người và xe cùng rơi xuống nước.

Chị Dung khi đó đang đi bộ phía sau, thấy chồng sắp cưới rớt xuống sông liền nhảy theo cứu. Mưa giông ập xuống bất ngờ, dòng nước xiết đã nhấn chìm đôi trẻ. Bà con khi đó nghe tiếng kêu cứu vội chạy ra nhưng đã quá muộn.

Chuyện xảy ra chưa lâu, những người chứng kiến giờ nhớ lại vẫn rơi nước mắt. Bà Phạm Thị Anh mắt ngấn lệ: “Tội tụi nó quá, gần ngày đám cưới mà lại làm đám tang…”.

Một câu chuyện khác cũng xót lòng không kém, đó là cái chết tâm thương của người mẹ trẻ Nguyễn Thị Lan (sinh 1974, trú tại Tam Tiến, huyện Núi Thành, Quảng Nam). Chị ra đi để lại cho chồng 3 đứa con thơ dại.

Trong ngôi nhà trống huơ còn nghi ngút khói hương, anh Ba Đạo, chồng chị Lan, kể lại: “Trưa hôm đó khoảng 12 giờ, vợ tôi từ chợ về nhà đi kéo tôm. Qua gần tới bến bên này thì cán phải cây đinh, bánh trước xe máy sụp xuống máng, cả xe và người lộn nhào xuống sông. Giữa trưa không ai hay biết, có hai em học sinh đi học hè về thấy vợ tôi vùng vẫy trên mặt nước, miệng ú ớ liền kêu cứu. Dân làng chạy ra thì vợ tôi đã thả tay chìm sâu trong dòng nước xiết. Nước sông đang lớn, sâu gần 7m, một số thợ lặn lành nghề lao xuống nhưng vẫn không tìm được, bà con phải bủa lưới mới vớt được thi thể của vợ tôi”.

Chị Lan ra đi để lại cho chồng 3 người con thơ dại

Chị Lan ra đi để lại cho chồng 3 người con thơ dại

Ông Nguyễn Văn Lai (75 tuổi) than thở: “Cây cầu đó dẫn đến nhiều cái chết thương tâm. Ở đây đã có chuyện bọn trẻ đi thi đại học bị rớt cầu, dân cứu được nhưng hoảng quá rồi cũng bỏ thi luôn…”.

Như trường hợp em Nguyễn Trí Hiếu, thôn 4, xã Tam Tiến cùng em Nguyễn Tấn Mạnh đi học tiếng Nhật trong Núi Thành để xuất khẩu lao động. Hôm đó qua cầu, do không chú ý quan sát và bị choáng vì nước dưới chân cầu chảy mạnh nên cả hai em bị rớt xuống nước. Mạnh biết bơi nên dìu được Hiếu một lúc, rất may có ghe lưới vừa đến kịp nên hai em thoát nạn. Nhưng từ đó trở đi, ba của Hiếu không cho em đi học qua cây cầu này nữa.

Chị gái của Hiếu là Nguyễn Thị Tuyết làm giao liên ở xã, hằng ngày phải qua lại 2 bờ để nhận thư báo. Thấy em trai suýt bỏ mạng ở cây cầu này, Tuyết sợ quá cũng bỏ việc luôn.

Bao giờ có cầu mới cho dân đi?

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Giúp – Phó Chủ tịch UBND xã Tam Tiến – cho biết: Cây cầu này được làm bằng sắt từ những năm 1980, có lan can đầy đủ nhưng năm 1985, cầu sắt hỏng, cầu được xây lại bằng bê tông cốt thép rộng 80cm và không có lan can.

Nguyên thủy đây là cái máng dẫn nước thủy lợi từ huyện Phú Ninh về tưới cho 32 ha lúa thuộc cánh đồng Bãi Vẹt của xã Tam Tiến chứ không phải là cầu cho dân đi. Vì không có cầu để qua sông nên người dân đành liều đi lại qua cái máng này, thế nên mới có tên cầu Máng.

Cũng theo ông Giúp, vừa qua xã có làm việc với Phòng NN&PTNT huyện Núi Thành về sự nguy hiểm của cây cầu nhưng lãnh đạo Phòng NN&PTNT huyện Núi Thành lại nói cầu chỉ để dẫn nước phục vụ nông nghiệp chứ không phải để đi nên đây là lỗi của dân.

Đi vòng thì xa, đi qua cầu thì nguy hiểm, mà xây cầu mới thì tốn quá nhiều tiền. Giải pháp tạm thời có thể là mở rộng 2 bên cầu thêm nửa mét, làm lan can, sửa lại mặt cầu. Nhưng trước mắt phải khảo sát lại chất lượng cây cầu.

Sau khi xảy ra nhiều cái chết thương tâm, ngày 4/8 vừa qua, xã đã cắm biển cấm người cùng phương tiện xe đạp, xe máy qua lại… Tuy nhiên, theo nhiều bà con ở đây, nếu cấm thì cả ngàn em học sinh ở hai thôn Tiến Thành và Tân Lập đi học ở trường THPT Cao Bá Quát tại Tam Anh Bắc (Núi Thành) sẽ phải đi đường vòng mất hơn 10 cây số.

Biện pháp trước mắt là cấm các phương tiện qua cầu

Biện pháp trước mắt là cấm các phương tiện qua cầu

Từ ngày có cầu Máng đến nay, gần 30 người rớt sông chết đuối và gần 100 người rớt sông kịp cứu sống, thậm chí có người rớt tới 2 lần. Chỉ tính từ ngày 9/6/2009 trở lại đây, chưa đầy 2 tháng đã có 10 người rớt sông được cứu sống, 3 người chết đuối.

Công Bính

(Source: http://dantri.com.vn/c20/s20-345462/nhung-cai-chet-thuong-tam-o-cay-cau-vinh-biet.htm; Thứ Bẩy, 22/08/2009 – 10:08 AM)

Một chút tình của người Việt hải ngoại đối với đồng bào Nam bộ

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

Bài đăng ngày 22/04/2009 Cập nhật lần cuối ngày  22/04/2009 12:10 TU

(Source: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/112/article_3275.asp)

Cầu khỉ ở Bến Tre

Cầu khỉ ở Bến Tre

Tấm lòng đó được thể hiện qua dự án “xây cầu bêtông thay cầu khỉ”. Kế hoạch này do một nhóm Việt kiều khởi xướng cách đây 6 năm. Một cách để bày tỏ tình đoàn kết của người Việt ở nước ngoài với đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long.

“Cầu khỉ” là một loại cầu được xây dựng một cách đơn sơ bằng tre bắc qua sông rạch để cho người qua lại. Loại cầu này rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, rất khó đi và nguy hiểm. Người ta hình dung chỉ có những con khỉ hay leo trèo mới có thể đi được, nên mới đặt tên là cầu khỉ.

Trên các tấm bưu ảnh giới thiệu miền sông nước đồng bằng Nam bộ,  cây cầu khỉ thường được chụp lại như một hình ảnh nên thơ với một hai cô thiếu nữ đứng trên cầu, tha thướt trong tà áo dài hay e ấp dưới vành nón lá. Nhưng, ai có qua cầu rồi mới thấu nỗi đoạn trường. Cầu khỉ lắt lẻo không nên thơ mà cũng chẳng dễ đi chút nào, nhất là khi trời mưa, đường đất trơn trợt .

Ra đời từ năm 2003, tới nay ”Nhóm VK ” gồm các Việt kiều ở nhiều nước khác nhau đã đóng góp xây dựng gần một trăm cây cầu bêtông thay thế cho những cây cầu khỉ gập ghềnh khó đi như hình ảnh trong bài hát ru con miền Nam.

Cầu đá do nhóm VK xây cất (pontvk.org)

Cầu BTCT do nhóm VK xây cất (http://pontvk.org)

Mỗi cây cầu đổ bêtông, bề ngang chuẩn là 1,9 m, có lan can, giá thành xây một mét, gồm cả vật liệu, nhân công là 100 euro. Theo trang web của nhóm VK ”http://pontvk.org”, hiện còn 115 cây cầu khỉ chờ được tài trợ xây thành cầu bêtông.

Trả lời phỏng vấn của chúng tôi, ông Trần Quang Đang, đại diện nhóm VK tại Pháp đã cho biết chi tiết của chương trình xây cầu bêtông xóa cầu khỉ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:


Download

Ánh Nguyệt

5 năm 85 cây cầu

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

bao-1e2
bao-2e

Những cây cầu xây từ lòng nhân ái

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

Đang sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau, nhưng họ đã cùng gặp nhau ở tấm lòng hướng về quê hương bằng việc làm rất thiết thực: xây cầu ở những vùng khó khăn, từ Long An đến Cà Mau…

Đó là các anh, chị như: Phan Thị Sách (Mỹ), Trần Đình Khương (Canada), Hikohiro Nakamura (Nhật Bản) và Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Văn Công, Trần Quang Đang, Lâm Minh Chiếu (Pháp). Kể từ tháng 1/2004 đến giữa tháng 10/2008, họ đã trực tiếp đóng góp và vận động bà con người Việt ủng hộ tài chính xây dựng được 80 cây cầu bê-tông có lan can an toàn ở 48 xã tại các tỉnh từ Long An đến Cà Mau.

Trung tuần tháng 10, Nhóm đã khánh thành chiếc cầu nông thôn dài 51m, rộng 2,1m bắc qua sông Đập Lá thuộc xã Hòa Lộc (huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre) được thi công chỉ trong 42 ngày giữa mùa mưa lũ. Đây là chiếc cầu giao thông nông thôn dài, rộng nhất mà các anh chị đã xây dựng giúp dân từ trước đến nay.

Do ý nghĩa phục vụ dân sinh, nên buổi lễ khánh thành rất đông người dân và quan khách tham dự. Ông Nguyễn Thái Xây, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre bày tỏ niềm phấn khởi: “Chúng tôi hết sức lo lắng tìm nguồn tài chính để xóa cầu khỉ, cầu tạm bợ. Nay, được nhiều bà con có tấm lòng giúp xây cầu bê-tông, chúng tôi rất vui mừng và cảm ơn bà con rất nhiều”. Đón nhận Bằng khen của UBND tỉnh, chị Lâm Thị Hía, nhà tài trợ chính, tâm sự: “Tôi tin rằng chiếc cầu mới sẽ đem lại thêm nhiều tiện ích cho cuộc sống người dân nơi này, nhất là những người lớn tuổi, chị em phụ nữ và trẻ em”. Đập Lá là chiếc cầu thứ 22 mà nhóm Việt kiều đã xây tặng trên quê hương Bến Tre Đồng Khởi.

Nhiều tháng trước khi hoạch định việc xây cầu Đập Lá, ông Nguyễn Vũ Thanh, Chủ tịch UBND huyện và nhiều cán bộ đã đến khảo sát ở xã ven biển Ngọc Tố của tỉnh Sóc Trăng. Ông Thanh huyện tâm đắc: “Kỹ thuật và tính thẩm mỹ của chiếc cầu dài 45m do nhóm Việt kiều thực hiện tại xã này đã thuyết phục chúng tôi đi đến quyết định mời nhóm về hỗ trợ xây dựng cầu Đập Lá”.

Tổng trị giá cầu Đập Lá lên tới 243 triệu đồng, trong đó chị Lâm Thị Hía, thay mặt nhóm cựu nữ học sinh trường Gia Long tài trợ 110 triệu đồng. Phần còn lại là đóng góp của huyện và của 410 hộ dân tại hai ấp Hòa Thuận 2 và ấp Hòa Nghĩa.

Đại diện nhóm VK tại:

Mỹ: Phan Thị Sách (sachpt@yahoo.com)

Canada: Trần Đình Khương (trandinh86@yahoo.com)

Pháp: Trần Quang Đang (tungy@club-internet.fr)

Nhật: Hikochiro Nakamu (hnakamurana@netscape.net)

Việt Nam: Nguyễn Văn Công (nvcong07@gmail com)

Công trình hoàn thành, ai cũng vui mừng. Trẻ em, sản phụ và bệnh nhân là những người hưởng lợi trực tiếp. Bác sĩ Lê Phương Dung, Trưởng Trạm y tế xã giải thích: “Có cầu mới, việc chuyển bệnh nhân đến trạm y tế và bệnh viện sẽ nhanh hơn. Điều này rất quan trọng trong cấp cứu và chữa trị”. Học sinh đi lại qua điểm này cũng yên tâm hơn, nhất là vào mùa mưa lũ.

Những lần khánh thành cầu nông thôn của nhóm Việt kiều đều có nhiều người Việt xa quê và nhiều mạnh thường quân trong nước – những người đã đóng góp tài chính để xây cầu – đến chia sẻ niềm vui với nhân dân và chính quyền địa phương. Ở cầu Đập Lá lần này cũng vậy: 60 Việt kiều và bạn hữu trong nước tham dự. Những bà con này là kênh truyền thông thuyết phục nhất đưa tin tức và hình ảnh tốt lành về những chiếc cầu bê-tông mới ở nông thôn xa xôi lan tỏa từ trái tim đến trái tim trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Nguồn lực xây dựng cầu từ đó tiếp tục phát triển. Và nhóm Viêệt kiều với chương trình xây cầu bê-tông xóa cầu khỉ tiếp tục cuộc hành trình làm đẹp lòng người, làm đẹp làng quê.

Hiện nay, Đồng bằng sông Cửu Long đang vào cao điểm của mùa mưa lũ và nhóm Việt kiều đang tích cực chuẩn bị những phần việc cần thiết (khảo sát địa hình, đo đạc, thiết kế, dự trù và vận động tài chính) để tiếp tục triển khai chương trình giúp dân xây cầu ngay từ đầu mùa khô năm 2009.

Nguyễn Văn Nghĩa

(Thứ Sáu, 31/10/2008 – 12:50 PM) - Trích từ : Báo Thế Giới & Việt Nam http://www.tgvn.com.vn/Story/vn/home/kieubao/2008/10/3789.html

Les Viêt kiêu construisent des ponts dans les régions reculées

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi



L’accident de bac, qui s’est produit en janvier dernier sur le canal de Thach My et qui a provoqué la mort de 5 élèves du collège de Ngoc Tô, district de My Xuyên, province de Soc Trang (delta du Mékong), est toujours dans nos mémoires. D’autant plus que la vie quotidienne de 950 familles de cette commune de Ngoc Tô est rythmée par les bacs. Chaque jour, plus de 500 écoliers du primaire doivent traverser la rivière pour aller à l’école.

Une semaine après cet accident, un groupe de Viêt kiêu (Vietnamiens résidant à l’étranger) a décidé de construire 3 ponts en béton pour cette commune. Au cours de 3 mois de mars à mai, 3 ponts d’une longueur respective de 35 m, de 29 m et 31 m ont été mis en service. Pour Pham Thanh Tang, recteur du collège de la commune, tous les enseignants, parents et élèves sont “satisfaits” car, grâce à ces ponts, les enfants peuvent aller plus facilement à l’école.

L’ingénieur Nguyên Van Công, représentant de ce groupe de Viêt kiêu, explique : “Notre programme contribuera à protéger la vie des enfants, futurs maîtres du pays”. Ces dernières années, il a rassemblé des Vietnamiens des États-Unis, de France, du Japon et du Canada…, pour construire des ponts en béton dans les régions reculées du pays. En 4 ans, ils ont construit 75 ponts en béton dans 43 communes de 10 provinces du delta du Mékong. Le premier pont de ce programme, d’une longueur de 25 m, a été construit en 2004, facilitant ainsi la circulation d’un millier de foyers des communes de Da Phuoc Hôi et An Thoi, district de Mo Cày, province de Bên Tre.

Et la bonne action fait tache d’huile, des Viêt kiêu du monde entier s’intéressent à l’aide de ces régions en situation difficile. La famille de Ba Boniface aux Antilles en est un exemple. Venu au Vietnam avec un ami, pour inaugurer un pont de 24 m de long dans le district de Mang Thit, province de Vinh Long, il a décidé d’offrir à ce district un 2e pont. En avril dernier, ce pont de 38,5 m de long a été ouvert en circulation. “Je suis très heureux d’inaugurer cet ouvrage qui contribue à améliorer les conditions de vie pour les habitants locaux”, confie M. Ba.

Actuellement, ce groupe de Viêt kiêu envisage de construire 51 ponts à la demande de 42 communes du delta du Mékong.

Huong Linh/CVN
(21/09/2008)

(Source: http://lecourrier.vnagency.com.vn/default.asp?xt=&page=newsdetail&newsid=45726)

Đội xây cầu miễn phí

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

TT – Ở Đồng Tháp có một đội xây cầu miệt vườn. Họ đi làm cầu ở khắp nơi mà không nhận tiền công. Người dân quen gọi đó là đội xây cầu “Hai lúa”.

Khi chúng tôi đến thì đội xây cầu “Hai lúa” đang khởi công xây cầu qua kênh rạch vùng quê xã Định An (Lấp Vò, Đồng Tháp). Ông Trần Văn Thảo, chủ tịch xã Định An, khoe: ” Mấy ổng là nông dân nhưng xây cầu đi ngon lành. Làm miễn phí mà nhiệt tình lắm, ai kêu xa ở đâu cũng tới. Xã này vùng sâu có mấy cây cầu tạm gần như xóa hết!”. Ông Thảo nhẩm tính đây là cầu đúc thứ mười mà xã cậy nhờ đội thi công.

15 năm nay, đội xây cầu “Hai lúa” đã xây trên hàng trăm cầu bêtông như thế này.

Ông Mai Văn Đâu (ấp An Lợi B, xã Định Yên, huyện Lấp Vò) – “chỉ huy trưởng” đội xây cầu – nói mùa nắng hay mưa nghe người dân hoặc chính quyền gọi là đội tới liền. Qua sổ sách ghi chú từ 15 năm qua, đội đã xây trên trăm cây cầu lớn nhỏ ở các huyện, thị Đồng Tháp và một số tỉnh ĐBSCL. Ông Đâu kể đội tập trung đông nhất vào lúc nông nhàn với quân số gần cả trăm người. Đội có nhiều cụ trên 68 tuổi nhưng tham gia với khí thế không thua thanh niên.

Việc xây cầu đã được ông Đâu lên kế hoạch từng bước chắc nịch. Trước khi tới địa điểm xây, đội của ông đến nơi khảo sát địa hình địa chất, độ nông cạn của sông. Xong bàn nhau vẽ bản thảo, tính toán với độ cao, chiều dài, chiều rộng như vậy cầu sẽ cần bao nhiêu sắt, thép, ximăng… rồi qui ra kinh phí gửi về xã. Ông Đâu nói: “Đội không hề xây bừa xây đại để lấy tiếng. Mình xây ẩu, bà con đi mà bị té hay cầu sập gây tai nạn thì tội lắm”.

Mấy anh em trong đội kể việc xây cầu xuất phát từ ông Đâu. Ông cười khà khà nói: “Thì cũng chung hết chứ đâu riêng gì ai”. Ông Đâu kể nhiều năm trước xã quê ông nghèo lắm, đường sá đi đâu cũng đụng kênh mương. Mùa nắng còn đỡ, mùa mưa, mùa nước nổi cầu ván trơn như nhớt, báo hại học trò vừa dắt xe vừa nơm nớp sợ trượt chân. Sợ nhất là qua những cây cầu như răng bà già, mấy thanh ván lót bị rớt tạo ra lỗ hổng nguy hiểm. Trước tình trạng này, ông Đâu rủ rê thân tộc múc đất, đắp đê ngăn lũ, rồi xây cầu để giúp tụi nhỏ đến trường thuận tiện.

Ban đầu ông và thân tộc xây cầu trong ấp, sau đó dân ấp khác thấy ông xây khéo nên năn nỉ nhờ xây giùm. Ông nói mình sẵn lòng làm không công nhưng phải cho người tới phụ chứ làm không xuể. Bà con nghe hợp lý nên gật đầu. Thế là những cây cầu mới mọc lên thay cho những cây cầu già nua.

Rồi từ đó người này rủ người kia gia nhập đội xây cầu. Ai nhờ, ai gọi, dù xa xôi ông Đâu cũng kéo quân lên đường. Lúc đầu máy móc không có, đội làm thủ công là chủ yếu. Sau đó mấy anh em trong đội trích tiền bán lúa, vận động người thân hùn tiền sắm sửa máy trộn hồ, máy hàn tiện, cần cẩu… Có mạnh thường quân còn nhiệt tình cho mượn xe tải để giúp đội vận chuyển máy móc đi xa.

Ban đầu đội chỉ xây cầu gỗ, từ năm 1998 trở đi mới xây cầu đúc. Dù không qua trường lớp nào, nhưng các “kỹ sư” miệt vườn này xây dựng rất thành thạo.

MINH TÂM (Thứ Hai, 23/06/2008, 07:55 (GMT+7) TTO)

Đức hỗ trợ Bến Tre thay cầu khỉ

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

Tỉnh Bến Tre đã được Chính phủ Đức tài trợ hơn 348.000 euro (khoảng 7,9 tỉ đồng Việt Nam) thực hiện dự án xây cầu bê tông thay thế cầu khỉ nông thôn tại những địa bàn nhiều khó khăn. Dự án được thực hiện trong 2 năm 2007 – 2008, sẽ xây dựng 137 cầu nông thôn có tổng chiều dài 2.668 m bằng bê tông cốt thép vĩnh cửu. Sau hơn một năm thực hiện dự án, tỉnh Bến Tre đã làm được 75 cây cầu thay các cầu tre và cầu khỉ trước đây, tạo thuận lợi cho việc đi lại, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội các địa bàn nông thôn từng bị chia cắt bởi cù lao, sông rạch chằng chịt. Số cầu còn lại đang khẩn trương thi công hoàn tất trong năm 2008 nhằm thiết thực phục vụ nhu cầu đi lại cho trên 4.220 hộ dân với gần 20.000 nhân khẩu trong các khu vực được hưởng lợi.

TTXVN, 03/06/08

(http://www.vnagency.com.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/252359/Default.aspx)

Thông tin về xóa cầu khỉ

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

1) Thứ Ba, 13/01/2004, 09:02 (GMT+7)

Dự án xóa cầu khỉ ở ĐBSCL: Triển khai chậm vì vốn ít

TT (Hà Nội) – Báo cáo với Trung ương Đoàn và đại diện các bộ, ngành chiều 12-1, chị Nguyễn Thị Ngọc Lan – giám đốc ban quản lý dự án xây dựng cầu nông thôn (Trung ương Đoàn) cho biết Dự án thanh niên xóa cầu khỉ ở ĐBSCL triển khai chậm, phạm vi hẹp vì thiếu vốn.

Theo chị Nguyễn Thị Ngọc Lan, do vốn trung ương phân bổ chỉ có 8 tỉ đồng năm 2003 (so với đề nghị 40 tỉ đồng) nên việc triển khai dự án 1.000 cầu ở 14 tỉnh ĐBSCL năm 2003 (năm thứ ba của chương trình thanh niên xóa cầu khỉ) chỉ thực hiện được ở sáu tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang.

Cũng vì thiếu vốn nên tiến độ xóa cầu khỉ, xây cầu mới cũng còn chậm. Cả năm 2003 chỉ có 237 cầu mới được hoàn thành đưa vào sử dụng, nâng tổng số cầu do thanh niên tham gia xây dựng, hoàn thành và đưa vào sử dụng trong suốt ba năm qua lên 642 cầu tại 448 xã khó khăn của 14 tỉnh ĐBSCL. Đặc biệt trong số cầu mới được xây dựng này có 23 cầu được xây dựng từ nguồn vốn tiết kiệm của chương trình.

ĐỨC BÌNH

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=16110&ChannelID=7)

2) Thứ Sáu, 11/03/2005, 13:31 (GMT+7)

Một nhà từ thiện xây 20 cầu nông thôn

Sau khi thực hiện thành công 2 cây cầu treo đầu tiên tại huyện Giồng Trôm, ông Tony Ruttiman, một nhà từ thiện quốc tịch Thụy Sĩ đồng ý tài trợ cho tỉnh Bến Tre số tiền khoảng 1,2 tỉ đồng để xây dựng cầu nông thôn.

Với số tiền này, sẽ giúp Bến Tre xây dựng được 20 cây cầu nông thôn theo thiết kế cầu treo, góp phần giúp địa phương từng bước xóa cầu khỉ nông thôn ở các vùng sâu vùng xa. Hiện Hội Khoa học Kỹ thuật cầu đường tỉnh Bến Tre đang khảo sát và đưa vào thi công số cầu treo được tài trợ này.

(Ảnh: Cây cầu treo do ông Tony Ruttiman tài trợ xây dựng ở xã Mỹ Thạnh huyện Giồng Trôm)

Theo Báo điện tử Cần Thơ

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=69875&ChannelID=3)

3) Thứ Tư, 10/08/2005, 04:12 (GMT+7)

Việt kiều Pháp tham gia Mùa hè xanh 2005

TT (TP.HCM) – Cùng Mùa hè xanh TP.HCM 2005, nhóm sáu bạn trẻ của chi hội thanh niên Việt kiều tại Pháp (UJVF) thuộc Hội Người Việt yêu nước tại Pháp (UGVF) đã tham gia xóa cầu khỉ tại ấp Hội Giảng, xã Nhị Long Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Tại đây, các bạn không chỉ tài trợ xây dựng chiếc cầu bằng bêtông rộng 2m, dài 20m với kinh phí gần 30 triệu đồng mà còn trực tiếp tham gia xây dựng cùng các thanh niên địa phương, các tình nguyện viên của Thành đoàn TP.HCM (ảnh).

Đây là lần đầu tiên các thành viên UJVF trực tiếp tham gia chiến dịch Mùa hè xanh mặc dù thời gian nghỉ phép về thăm quê hương không nhiều. Dự kiến chiếc cầu bằng bêtông này sẽ được bàn giao cho địa phương vào ngày 13-8 sắp tới.

Cũng trong hè này, UJVF đã tổ chức các đoàn dạy tiếng Pháp tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, làng Hòa Bình 2 Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ (TP.HCM).

VÕ NHẬT VINH

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=92830&ChannelID=7)

4) Thứ Ba, 14/03/2006, 16:22 (GMT+7)

An Giang: mỗi đoàn viên một việc làm tình nguyện

TT – Sau lễ ra quân tại tỉnh đoàn, từ 3-3 ĐVTN các địa phương đã ra quân, triển khai nhiều hoạt động: gìn giữ trật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, trồng cây chống sạt lở, làm đường, xây dựng cầu nông thôn xóa cầu khỉ… với tổng trị giá 1 tỉ đồng.

Bên cạnh đó còn nhiều hoạt động khác như quyên góp ủng hộ, giúp đỡ người dân và chiến sĩ biên giới hải đảo; thăm hỏi, chăm sóc sức khỏe, sửa chữa xây dựng nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách, mẹ VN anh hùng, gia đình thương binh liệt sĩ, có công với cách mạng…

Ngoài ra, còn có các hoạt động giao lưu với những nhân chứng lịch sử, tổ chức du khảo về nguồn và diễn đàn “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi 20″ ở các cấp cơ sở…

Đ.VỊNH

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=127420&ChannelID=7)

5) Thứ Tư, 07/06/2006, 04:30 (GMT+7)

Hậu Giang: chung sức làm đường nông thôn

TT – “Khi chưa có đường bêtông và cầu ximăng, đường sá rất lầy lội vào mùa mưa. Từ khi người dân cùng chính quyền chung tay làm đường giao thông nông thôn (GTNT) ai cũng phấn khởi” – bác Huỳnh Văn Mười ở khu vực 1, phường 5, thị xã Vị Thanh – phấn khởi cho biết.

Thay đường làng

Theo bác Huỳnh Văn Mười, việc bêtông hóa đường nông thôn được làm theo phương thức: dân lo phần đắp đất, phá cây, nâng đường… Chính quyền lo phần tráng đường, huy động nguồn lực để hỗ trợ dân và để dân giám sát công trình. “Mỗi một mét đường được làm mới như nối thêm bờ vui trong xóm, ấp!” – bác Mười nói.

Việc đi lại thuận lợi, người dân sắm xe máy đi làm đồng, vận chuyển hàng hóa; trẻ em thong thả đến trường bằng xe đạp, không còn cuốc bộ trên những con đường đất phèn gồ ghề như trước nữa. Đi đến đâu chúng tôi cũng nghe người dân rôm rả bàn chuyện làm đường GTNT vì “đó cũng là sở nguyện của người dân quê”.

Nhìn về phía con đường bêtông mới xây xong, bà Huỳnh Thị Ba (65 tuổi), khu vực 1, phường 3, cho hay: “Trước khi chính quyền thông báo có ý định làm đường bêtông, xóa cầu khỉ tôi đã chủ động vận động bà con đốn cây, làm cỏ, dọn dẹp vệ sinh. Lần nào có các cuộc họp bàn tôi cũng xin đi theo để vận động. Bà con ai cũng ủng hộ”.

Nhờ đó, nhiều địa phương đã thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra. Điển hình như ở phường 7, ông Huỳnh Diệp Khả – chủ tịch UBND phường – cho hay ngày 24-4 vừa rồi toàn bộ 4km đường GTNT và 14 cầu bêtông xây mới đã hoàn thành, đang chờ nghiệm thu.

Chung sức cùng làm

Trong điều kiện mới chia tách, tỉnh Hậu Giang đặt mục tiêu bêtông hóa GTNT lên hàng đầu. Theo ông Lê Văn Năm, phó giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Hậu Giang, để thay đổi bộ mặt GTNT trong những năm đầu mới chia tách, tỉnh đã huy động sức dân để giải quyết việc đi lại, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển.

Đầu năm 2004, tỉnh đã phát động phong trào làm đường GTNT tại 63 xã, phường, thị trấn. Khi dân đã đồng lòng chúng tôi tiến hành họp dân, công khai kinh phí, xác định các tuyến đường, vị trí nền đường cao hơn mực nước lũ từ 0,3-0,5m…

“Tất cả đều công khai, dân chủ dưới sự giám sát của dân. Ai cũng xem đây là trách nhiệm chung nên ngành chức năng thuận lợi trong công tác chỉ đạo” – ông Năm cho biết.

Sở Giao thông vận tải Hậu Giang cũng cho hay mỗi năm dân đóng góp khoảng 50 tỉ đồng (chiếm khoảng 70% nguồn kinh phí) để làm đường.Tỉnh giao cho Sở Giao thông vận tải, phòng nông nghiệp & phát triển nông thôn điều phối chương trình xuống tận xóm, ấp; công trình nào hoàn thành sớm tiến độ, đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật, chất lượng sẽ được thưởng bằng công trình nhằm tạo đà giúp dân hoàn thành tiếp những công trình khác tại địa phương hoặc phục vụ các mục đích công ích khác.

“Chúng tôi rất vui khi chủ trương đưa ra phù hợp lòng dân. Bộ mặt nông thôn ngày một đổi mới, đường sá rộng thoáng” – giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Hậu Giang Nguyễn Liên Khoa nói.

Theo Sở GTVT tỉnh Hậu Giang, riêng từ đầu tháng 2-2006 đến đầu tháng 5-2006 toàn tỉnh đã làm mới trên 192km đường bêtông nông thôn, nâng cấp 163km, xóa trên 100 cầu khỉ. Tổng kinh phí thực hiện trên 87 tỉ đồng (dân góp trên 69 tỉ).

THANH XUÂN

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=142142&ChannelID=3)

6) Thứ Năm, 08/06/2006, 06:32 (GMT+7)

Vào hè tình nguyện 2006

TT – Thành đoàn TP Cần Thơ vừa triển khai chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè 2006 với nhiều hoạt động thiết thực: hỗ trợ các địa bàn khó khăn, thực hiện chương trình phát triển kinh tế-xã hội tại các xã vùng sâu, vùng xa (xóa cầu khỉ, khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật…)

(Ảnh: Thanh niên Hà Nội ra quân chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh 2006 – Ảnh: Thái Thịnh)

Ngoài ra còn có công tác bảo vệ môi trường; tuyên truyền phổ biến pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật; đền ơn đáp nghĩa, chung sức cùng cộng đồng chăm sóc thiếu nhi; tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế (tiếp sức mùa thi, phổ cập tin học, vệ sinh môi trường, truyền thông phòng chống dịch bệnh…).

* Tỉnh đoàn Bình Dương đã phát động đội thanh niên tình nguyện tham gia chống mù chữ, phổ cập giáo dục, đặc biệt cho trẻ em lang thang trong các gia đình ở khu nhà trọ.

* Huyện đoàn Quảng Trạch đã ra quân mở đầu cho chiến dịch mùa hè tình nguyện năm 2006 ở tỉnh Quảng Bình, hướng về vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Ngay sau đó hơn 100 ĐVTN hai xã Quảng Xuân, Quảng Hưng đã đào đắp hơn 60m3 đất đá san lấp sân Trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Quảng Xuân.

ĐVTN Quảng Phú, Quảng Phúc, Quảng Minh và các đội xung kích tình nguyện huyện khởi công xây dựng nhà tình nghĩa cho cựu TNXP, trẻ em mồ côi. Trên 40 ĐVTN tình nguyện khác đã về thôn 1, xã Quảng Thạch xây dựng hai đập tràn bêtông vượt khe sâu làm đường cho HS và người dân qua lại.

* Tỉnh đoàn Thanh Hóa vừa ra quân chiến dịch “Tháng thanh niên tình nguyện hè 2006″. Với phương châm “Rộng khắp, sáng tạo, an toàn và thiết thực”, chiến dịch dự kiến sẽ có hơn 10.000 ĐVTN tham gia làm 150km đường giao thông nông thôn ở sáu huyện miền núi, 500 SV, thanh niên tình nguyện Trường ĐH Hồng Đức, Thành đoàn TP Thanh Hóa và Công an tỉnh tham gia “Tiếp sức mùa thi”.

* 13 triệu đồng là số tiền quyên góp được qua đêm văn nghệ gây quĩ hoạt động chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh năm 2006 do Đoàn Trường ĐH Marketing, Trung tâm Hỗ trợ SV TP.HCM phối hợp tổ chức tối 6-6.

Hè 2006, SV tình nguyện nơi đây thực hiện nhiều công trình: xây nhà tình thương, nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách neo đơn, tặng máy vi tính cho các xã nghèo… tại mặt trận Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang).

HÀ ĐỒNG – KIỀU MY – ANH THOA – L.GIANG – THỦY NGỌC – MẠNH KHÔI

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=142381&ChannelID=7)

7 Thứ Tư, 08/11/2006, 05:27 (GMT+7)

Cần Thơ: xây dựng 12 cầu công trình thanh niên

TT – Thành đoàn TP Cần Thơ vừa khởi công xây dựng công trình cầu thanh niên thứ năm của năm 2006. Cây cầu này được xây dựng tại xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh (TP Cần Thơ) với tên gọi là cầu Vĩnh Lân.

Đây là công trình nằm trong phong trào xây dựng cầu nông thôn xóa cầu khỉ tại các tỉnh thành ĐBSCL do Trung ương Đoàn phát động. Được biết trong năm 2006, Thành đoàn TP Cần Thơ sẽ xây dựng 12 cây cầu nông thôn tương tự với tổng kinh phí 1,7 tỉ đồng; trong đó Trung ương Đoàn hỗ trợ 700 triệu đồng, số còn lại là kinh phí địa phương.

PHẠM DIỄM

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=171330&ChannelID=7)

8) Thứ Hai, 20/11/2006, 04:37 (GMT+7)

100 cây cầu bêtông thay cầu khỉ

TT – Ngày 18-11, Tỉnh đoàn Kiên Giang đã tổ chức khánh thành bốn cây cầu bêtông trong dự án xóa cầu khỉ do SYM tài trợ. Dự án này gồm 100 cây cầu bêtông với kinh phí xây dựng là 200.000 USD tại Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Đồng Tháp…

Hiện nay đã có 26 cây cầu bêtông hoàn tất và đưa vào sử dụng. Trong năm tới, tất cả các tỉnh còn lại của ĐBSCL sẽ tiếp tục triển khai để hoàn tất dự án xóa cầu khỉ của SYM.

(Ảnh: Khánh thành cầu Thầy Bang, xã Tân Lược, huyện Bình Minh, Vĩnh Long)

TÂN NGUYỆT

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=173426&ChannelID=3)

9) Thứ Ba, 27/03/2007, 07:02 (GMT+7)

Ông sư xóa cầu khỉ, nhà nát

TT – Mấy năm trước qua ấp Hòa Thanh, xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang ai cũng ngán đường bùn lầy nhão nhoẹt, cầu khỉ lắc lư. Bây giờ là thời xe hai bánh chạy êm ru qua con đường đất phẳng phiu, những cây cầu bêtông vững chắc.

(Ảnh: Sư Trần Nhiếp đã xây gần trăm cây cầu bêtông ở huyện Gò Quao và Giồng Riềng (Kiên Giang) – Ảnh: M.T.)

30 năm vẫn “chạy” tốt

Anh Thạch Danh, một người dân cố cựu đang phóng xe mau miệng nói: “Nhờ công của sư cả Trần Nhiếp đấy”. Sư cả Trần Nhiếp hiện là thượng tọa chùa Thanh Gia, ấp Hòa Thanh, xã Định Hòa, huyện Gò Quao. Ông Đào Văn Lẹ, chủ tịch xã Định Hòa, nói: “Sư là người đức hạnh cao, người dân vùng này đều kính nể những việc sư làm suốt mấy chục năm nay”. 40 năm qua, hình ảnh vị sư già bền bỉ liên tục có mặt các nơi để khảo sát, vận động, thiết kế xây gần trăm cây cầu bêtông lớn nhỏ ở các xã nghèo huyện Gò Quao, Giồng Riềng (Kiên Giang) đã in đậm trong tâm trí bao người…

Sư vạch kế hoạch thực hiện, tiền của thì vận động người dân quanh vùng, các nhà hảo tâm, Việt kiều. Thi công tới đâu hô hào trai tráng nơi đó tới phụ, như vậy sẽ hạn chế tiền thuê nhân công tốn kém. “Đem ý định này nói ra bà con đều đồng lòng ủng hộ, không những thế họ còn tự nguyện nấu cơm nước phục vụ” – sư nói. Ngày khánh thành những cây cầu mới ở ấp Hòa Thanh, nhìn những cụ già ung dung bước qua cầu còn thơm mùi vôi mới, trẻ em chạy xe tung tăng đến trường, lúa gạo cũng vận chuyển dễ dàng hơn, sư vui lây và nghĩ đến những con kênh khác đang cần nối nhịp.

Tiền dân quyên góp, nhà hảo tâm,Việt kiều đóng góp sư đều đổ vào các cây cầu. Tới năm 2007 đã có gần trăm cây cầu trị giá hàng tỉ đồng “mọc” lên ở các xã Vĩnh Phước, Định An, Định Hòa, Thiệu Liễu…, huyện Gò Quao và xã Giồng Đá, huyện Giồng Riềng (Kiên Giang). Riêng huyện Gò Quao giờ đây không còn cây cầu khỉ nào.

Dù chỉ học lóm từ các kỹ sư cầu đường nhưng những cây cầu do sư đảm trách đến nay đã hơn 30 năm mà chất lượng vẫn còn khá tốt. Tùy thuộc vào kinh phí vận động, mỗi năm sư xây 2-3 cây cầu. Cầu bêtông lớn kinh phí 35-50 triệu đồng, thời gian xây 1-2 tháng, cầu nhỏ thì 10-20 triệu đồng, thời gian hoàn thành khoảng một tháng.

“Tưởng họ nói đùa”

“Nhà mục nát, mưa gió dột lắm, thấy tôi nghèo sư thương nên cho mấy triệu đồng xây nhà mới. Nếu không thì còn lâu mới có được ngôi nhà kiên cố” – bà Danh Lẹ, 80 tuổi, ấp Hòa Thanh, nói. Ông Danh Đức, 46 tuổi, ngồi trong căn nhà tươm tất kể nhà ông lúc trước te tua lắm, muốn sửa ngặt cái thiếu tiền nong. Cứ thế vợ chồng ông và hai đứa con chen nhau trong căn nhà tranh túm húm. Cho tới một ngày đi làm đồng thuê về, nghe bà con kể sắp có nhà mới ông tưởng họ nói đùa. Vài hôm sau đã thấy sư Trần Nhiếp đến hỏi han, tặng tiền cất nhà, ông muốn khóc.

(Ảnh: Ở tuổi 80, bà Danh Lẹ (trái) có thể êm ấm trong căn nhà mới)

Ông Đào Văn Lẹ, chủ tịch UBND xã Định Hòa, nói: “Tiếng nói của sư rất có trọng lượng đối với người dân trong vùng. Việc xây cầu dù lớn hay nhỏ chỉ cần sư lên tiếng vận động là có hàng trăm người phụ giúp”.

Nhớ lại chuyện này sư kể: “Tháng 6-2006 khi đang xây cầu bêtông thì tình cờ ông Trần Lam, chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Kiên Giang, chạy ngang. Khi ông Lam hỏi chuyện, tôi thiệt tình nói xây cầu cho người dân đi lại dễ hơn, nghe xong ông Lam đã cho địa chỉ và đề nghị nếu có khó khăn gì cứ tìm đến…”. Lúc này sư Trần Nhiếp chợt nhớ người dân phải sử dụng nước giếng, ở nhà sắp sập nên nhanh chóng “bắt mối” cùng ông Lam để làm. Trước nhiệt huyết của sư, ông Lam hỗ trợ tiền xây năm căn nhà, năm cây nước.

Trong năm 2006, bằng các nguồn tài trợ khác nhau, sư đã xây cất chín căn nhà tình thương, mỗi căn trị giá 7 triệu đồng và xây mười cây nước, mỗi cây trị giá 1,6 triệu đồng cho bà con nghèo ở các ấp Hòa Thanh, Răng Rít, Bằng Bé… Hai tháng đầu năm nay, sư lên kế hoạch hoàn thành năm căn nhà tình thương, sau đó tiếp tục khảo sát ở các vùng nông thôn để ghi nhận nhà nào sập xệ, sư lại vận động các nhà hảo tâm.

Nhà sư 77 tuổi này bảo vẫn còn nhiều cây cầu khỉ, cầu ván ở các xã vùng sâu, vùng xa khác trong tỉnh cần đầu tư xây cất. “Ước nguyện của tôi là được khỏe mãi để tiếp tục xóa cầu cũ kỹ ở những vùng sâu, xây nhà cho người nghèo” – sư nói.

MINH TÂM

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=193369&ChannelID=3)

10) Thứ Tư, 28/11/2007, 01:00 (GMT+7)

Hơn 1.150 cầu nông thôn mới ở ĐBSCL

TT – Sáng 26-11, tại TP.HCM, Trung ương Đoàn đã tổ chức hội nghị tổng kết dự án thanh niên xóa cầu khỉ xây dựng cầu nông thôn mới ở ĐBSCL (năm 2000-2007).

(Ảnh: Sinh viên Mùa hè xanh thực hiện chương trình xóa cầu khỉ)

Theo đó, 1.158 cầu (đạt 83% kế hoạch) đã được xây dựng, hoàn thành trên địa bàn 498 xã của 114 huyện thị, 15 tỉnh thành (13 tỉnh thành ĐBSCL, Tây Ninh và TP.HCM) với tổng giá trị trên 180 tỉ đồng (vốn trung ương hỗ trợ là 84 tỉ đồng).

Với chủ trương tiết kiệm 5% kinh phí đối với tất cả các đối tác tham gia dự án, chương trình đã tiết kiệm cho Nhà nước gần 5 tỉ đồng, được tái đầu tư xây dựng thêm 43 cây cầu.

Dự án đã giải quyết việc làm cho hơn 5.500 bạn trẻ.

KIM ANH

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=231353&ChannelID=7)

vv…

Chênh vênh qua cầu

Đọc báo dùm bạn Không có phản hồi

(http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=139393&ChannelID=13)

—— *-*-* —— *-*-* —— *-*-* —— *-*-* ——

Quê hương có chiếc cầu tre
Có con sông nhỏ chảy “dìa” phương xa
Quê hương có Mẹ, có Cha
Có dòng nước đỏ phù sa đậm màu

“Chênh vênh” em bé qua cầu
Bóng in đáy nước cúi đầu tìm thương
Quê nghèo “một nắng hai sương”
Trên cây cầu nhỏ nghe buồn nao nao

Trên trời có mấy vì sao?
Dưới sông có mấy cây sào bắt qua
Bước chân sợ té, sợ va
Khom lưng dò dẫm lần qua mỗi ngày

Cầu tre lắc lẽo chia hai
Con đường sáng-tối, ngắn- dài cũng cam
Cây dừa nghiêng bóng chao ngoan
Tháng dài, ngày ngắn cưu mang bước đời

Nối tay vá chút mảnh trời…
Của tuy rất ít lòng thời ngàn cân
Tình thương nở ở xa- gần
Cây cầu “Gạch Nối” nối vần yêu thương

Bao người còn ở tha phương
Làm sao ve vuốt mầm non mái đầu…
Có ai từng bước qua cầu
Mới hay…mới biết sông sâu “đoạn trường “

……………..

Chiều Thu

Gachnoionline.org


Maintained by link2caro - TechInfo Vietnam
© 2008 All Rights Reserved.